Làng nghề - Làng cổ

Phụng Các - làng cổ 400 năm Kỳ 4

Trên diện tích đất đai đã khai hoang, cư dân Phụng Các canh tác cây lúa là chủ yếu. Ngoài ra, các vùng đất thổ có thể trồng thêm nhiều loại cây khác như đỗ, khoai lang, sắn mì, hoặc cây bông vải để kéo sợi. Khoai lang được trồng phổ biến trên các gò cao ở Phụng Các mỗi năm 2 vụ: một vụ vào tháng 2-3 và thu hoạch vào tháng 5-6; vụ trồng tháng 7-8 thì thu hoạch vào tháng 1-2 năm sau. Cây bông vải được trồng trên các gò cao ở xóm Phước Nguyên.

Trong lĩnh vực chăn nuôi dưới triều Nguyễn, nhân dân Phụng Các nuôi bò là phổ biến. Đây là loài vật cung cấp sức kéo trong nông nghiệp và đồng thời để lấy phân bón cho đồng ruộng. Ở các hộ gia đình còn có nuôi heo và các loại gia cầm như vịt, gà, ngan, ngỗng để lấy thịt và trứng. Vịt được chăn thả các vùng ven đầm, bàu tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên tôm, cua, ốc. Do vậy, trong mỗi gia đình ở Phụng Các xưa đều có sẵn nguồn thức ăn dự trử, mỗi khi có bạn bè hoặc khách khứa đến thăm thì khỏi phải ra chợ mua sắm, chỉ cần bắc nồi nước lên bếp, tìm vài quả trứng, chọn một con gà hoặc vịt là có thể thết đãi một bữa thịnh soạn bằng hương vị “cây nhà lá vườn”.

Trong điều kiện tự nhiên nhiều vùng trũng với sông lạch, ao, bàu nên một bộ phận cư dân trên địa bàn Phụng Các ngoài việc đồng áng còn kiếm thêm thu nhập bằng nghề khai thác thủy sản. Các vùng bàu Ao, bàu Đăng, bàu Dài, dọc sông Bến Lội là nơi sinh sống của nhiều loại thủy sản như cá tràu, cá trê, cá diếc, cá rô, chình, cua, tôm, ốc, hến … được người dân đánh bắt hàng ngày bằng các ngư cụ như lờ, đó, lưới, đăng, nơm. Thời bấy giờ cá, tôm được đánh bắt thường xuyên tại sa Ba Miệng trên vùng bàu Dài. Sau khi đánh bắt, phần lớn cá tôm được đem đến các chợ trong vùng để bán hoặc bán dạo trong thôn xóm.

4. Phụng Các trong thời kỳ Pháp thuộc (1885-1945)

Ngày 6-6-1884, triều Nguyễn ký kết hiệp ước Patơnốt (Patenôtre) chính thức công nhận sự thống trị của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Ở phú Yên sau khi phong trào Cần Vương do Lê Thành Phương lãnh đạo (1885 -1887) thất bại, thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị thuộc địa với bộ máy chính quyền thực dân và phong kiến tay sai Nam triều.

Năm 1899, đơn vị hành chính ở Phú Yên có sự thay đổi: huyện Tuy Hòa được thăng lên phủ Tuy Hòa bên cạnh phủ Tuy An thành lập trước đó (1885). Miền núi các phủ Tuy An, Tuy Hòa và huyện Đồng Xuân được tách ra lập huyện mới Sơn Hòa lệ thuộc vào phủ Tuy Hòa. Một số làng thuộc tổng Hòa Bình phủ Tuy Hòa tách ra lập thành tổng Hòa Tường. Làng Phụng Tường được chính quyền thực dân chia nhỏ để dễ quản lý gồm 3 làng: Phụng Tường, Long Tường, Phụng Nguyên thuộc tổng Hòa Tường.

Làng Long Tường nằm phía bắc Phụng Tường, ranh giới hai làng đánh dấu bằng đường thẳng từ cây Da cổ thụ phía tây bắc Phụng Tường kéo dài đến Núi Vàng được người dân thời bấy giờ đặt thành ngữ: “Cây Da mặt quỷ trực chỉ Núi Vàng”. Làng Phụng Nguyên gồm diện tích lý (xóm) Phước Nguyên và một số hộ dân mới lập cư vùng chân núi Gò Kho và xóm Lò Gõ, ngăn cách với Long Tường bởi con sông Bến Lội. Làng Long Tường bao gồm 2 lý (xóm): Đông Mỹ và Tây Mỹ. Làng Phụng Tường gồm các xóm, ấp còn lại là ấp Hy Nguyên, xóm Nông Hòa, Nông Điều.

Năm 1924, công trình thủy nông Đồng Cam chính thức khởi công với việc xây dựng đập chắn ngang sông Đà Rằng, dưới sự chỉ huy của các kỹ sư Fargues, Machefaux và Carrez. Đến năm 1933, hệ thống thủy nông Đồng Cam chính thức đi vào khai thác, nước dẫn từ kênh chính chảy qua 300 tiêu câu tưới cho các cánh đồng hai bên tả và hữu ngạn sông Đà Rằng(10).

Từ khi thủy nông Đồng Cam đi vào hoạt động, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn làng Phụng Các cũng như châu thổ sông Đà Rằng được chuyển canh tác 1 vụ/ năm sang gieo trồng từ 2-3 vụ mùa/năm. Hệ thống nước tưới đến các cánh đồng ở Phụng Các qua kênh N1, N2 và kênh chính phía bắc đã tăng năng suất lên rất nhiều. Một số diện tích khô hạn trên các xứ đồng Nghệ, đồng Láng, đồng Núi Sầm, Đồng Tre, đồng Cẩu Cuồng, đồng Gò Kho được cung cấp nước tưới, đồng thời việc tiêu úng trên các vùng đồng trũng cũng được đẩy mạnh.

Lúc bấy giờ nhiều giống lúa mới do trại thực nghiệm giống của sở Canh nông Trung kỳ đặt tại làng Phong Niên cung cấp cho các cánh đồng ở làng Phụng Các đem lại năng suất cao. Các giống lúa được người dân ở đây sử dụng gieo trồng trong năm như:

- Vụ mùa tháng 3: có Móng chim, Bông giang, Áo già, Nhe trắng, Nhe bâu, Cúc, Mận, Mạc cu, Tau bâu.

- Vụ mùa tháng 8: Cúc, Nhe trắng, Mạc cu, Móng chim, Bông giang, Mân, Tau bâu, Áo già, Nhe bâu.

Ngoài thời gian canh tác trên đồng ruộng, cư dân làng cổ Phụng Các dưới thời Pháp thuộc còn phát triển các nghề thủ công như gốm, dệt vải. Tuy không sánh bằng các làng nghề dệt nổi tiếng thời bấy giờ ở khu vực phía bắc sông Đà Rằng như Ngọc Lãng, Đông Bình, Cẩm Thạch nhưng phần lớn các hộ dân ở đây mỗi nhà đều sắm ít nhất một khung cửi để kéo sợi và dệt vải cho nhu cầu may mặc trong gia đình. Chất lượng vải làm ra không cao, chủ yếu là vải xi-ta được nhuộm chàm. Bông dùng để dệt vải được mua ở vùng Đồng Tranh, Cẩm Tú, Gò Nổng và một số khu vực huyện Tuy An. Sang thời 9 năm kháng chiến chống Pháp, nghề dệt vải còn duy trì với xưởng dệt vải xi-ta nổi tiếng của Phạm Kỳ Thế ở xóm Đông làng Quy Hậu. Xưởng dệt có quy mô lớn, thu nhận trên vài chục nhân công cung cấp vải cho nhân dân trong vùng và bộ đội Việt Minh.

(Còn nữa)

Theo: TS. ĐÀO NHẬT KIM

Số lượt xem: 3288

(Bài được đăng bởi administrator)

Tag: Phụng Các

 
 

  Các tin liên quan:

 
Bo mot nang Phu Yen
quảng cáo 1quảng cáo 2

Sao Coffee

Phù Đổng

Visa Uc

Vé máy bay PY