Làng nghề - Làng cổ

Phụng Các - làng cổ 400 năm Kỳ 5

Đoạn thành dài 100m, rộng 50m, cao 2m bao bọc xung quanh đền. Cổng chính vào đền rộng 3m, cao 3m, xây kiểu vòm cuốn, phía trên có hai tầng mái. Hai bên cổng chính là hai cổng phụ rộng 2m, cao 2,5m cũng xây theo kiểu vòm cuốn. Đền xây mặt theo hướng tây nam, có diện tích là 6mx5m. Tường xây bằng gạch, đá, hợp chất vôi, cát, mật. Mái lợp ngói âm dương. Trước mặt đền là bình phong cũng xây bằng gạch, vôi và mật, bốn mặt đều có hoa văn phù điêu tứ linh: long, lân, quy, phụng.

Phía trước đền có đôi câu đối bằng chữ Hán:

“Hồng Đức thiên biên tồn sự nghiệp

Phụng Tường miếu mão đối sơn hà”.

Tạm dịch:

Biên giới vua Hồng Đức xưa còn giữ nước

Miếu mạo ở làng Phụng Tường vẫn còn chiếu sáng núi sông.

Phía trong đền có hai câu đối:

- “Lễ nhạc ưu ưu Đà Thủy Diễn

Huân danh ngật ngật Cẩm Sơn cao

- “Công tộc thủy nguyên lưu tự giáp

Phụng Tường lân chỉ biệt thành tôn”

Theo lời người xưa kể lại, đền rất linh thiêng: lúc mới lập, thường có một đạo hào quang ở trong đền bay ra. Có lúc trời đang nắng, thoạt có mây mù, gió, sấm chớp nổi lên, đạo hào quang ấy lại bay vào đền. Mỗi lần, dân làng có việc gì, hoặc năm nào trời hạn đến đây cầu đảo thì có hiệu nghiệm ngay. Do sự linh hiển như vậy, nên các quan tri huyện đến nhận chức ở Tuy Hòa đều đến đền yết bái, sau mới dám làm việc. Dưới thời vua Tự Đức, có quan tri huyện không tin vào sự linh ứng của đền thờ trong một lần cầu mưa không hiệu nghiệm. Ông ta sai lính đến đo đạc ruộng cấp cúng tế để đánh thuế. Khi quân lính đang đo đạc thì có trận gió to từ trong đền thổi ra, kèm theo mây, mưa, sấm chớp nổi lên làm cho đất trời tối đen khiến cho sợ hãi, quan huyện thất kinh liền vào đền khấn vái hối ngộ, không dám đo đạc nữa. (12)

Trải qua thời gian, đền thờ đã đổ sập, chỉ còn bờ thành phía trước với cổng chính và hai cổng phụ. Một cây bồ đề cổ thụ có bộ rễ rất lớn bao trùm lên 4 bức tường của đền tạo nên một cảnh trí lạ mắt và đẹp. Năm 1964, họ tộc Lương xây dựng một ngôi nhà nhỏ cách đền cũ 200m về phía bắc để lập bàn thờ Lương Văn Chánh đồng thời là nơi họ tộc về tụ họp nhân ngày giỗ của ông.

Năm 2005, đền thờ Lương Văn Chánh được trùng tu, một tấm bia bằng đá granit ghi tóm tắt tiểu sử và sự nghiệp mở đất Phú Yên của ông được dựng lên. Bên cạnh, một ngôi nhà khang trang vừa làm nhà khách và là nơi trưng bày sắc phong của các triều vua ban cho danh nhân Lương Văn Chánh. Hàng năm vào ngày 19-9 (âm lịch) chính quyền địa phương cùng với tộc họ Lương tổ chức ngày giỗ và lễ dâng hương tại đây.

Từ năm 2007, lễ hội đền thờ Lương Văn Chánh do Phòng Văn hóa thông tin huyện Phú Hòa tổ chức vào ngày 6-2 (âm lịch), nhân sự kiện Tổng trấn Nguyễn Hoàng thừa lệnh vua Lê ủy nhiệm Lương Văn Chánh đưa lưu dân vào khai khẩn đất hoang, đẩy mạnh việc lập làng ở Phú Yên. Lễ hội có hát tuồng và nhiều trò chơi dân gian mô phỏng thời kỳ mở đất.

Mộ Lương Văn Chánh nằm ở phía đông bắc của làng, nằm trên gò cao quay mặt ra bờ sông Bến Lội. Mộ được xây dựng với quy mô khá lớn: dài 4m, rộng 3m, có tường bao quanh cao 1,5m với chất liệu đá, gạch, hợp chất vôi, cát và mật rất chắc chắn. Nấm mộ đắp hình mai rùa chu vi rộng 3,2m, dài 1,6m. Hiện trạng còn tương đối nguyên vẹn.

Di tích đền thờ và mộ Lương Văn Chánh được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia số 2410 -QĐ/VH vào ngày 27-9-1996. Năm 2011, nhân kỷ niệm 400 năm tỉnh Phú Yên được thành lập, đền và mộ của ông được trùng tu, xây dựng to lớn, khang trang, trở thành nơi các tầng lớp nhân dân đến thắp hương, thăm viếng vùng đất tổ.

b.Di tích lịch sử Núi Sầm

Núi Sầm là ngọn núi nhỏ nằm ở vị trí trung tâm làng cổ Phụng Các và gắn liền với những sự kiện lớn của lịch sử dân tộc diễn ra trên vùng đất Phú Yên. Địa danh núi Sầm do người xưa đặt tên dựa vào nhiều cây sầm mọc ở đây.

Dưới thời Tây Sơn, núi Sầm là trung tâm văn hóa của khu vực phía nam Phú Yên. Tại đây, Lương Văn Cương được giao nhiệm vụ mở Sầm Sơn thi xã để tập hợp danh sĩ không chỉ ở Tuy Hòa mà cả tỉnh Phú Yên và các tỉnh duyên hải miền Trung.

(Còn nữa)

-------------------

(12) Tài liệu do Hiệu trưởng trường Phước Khánh là Lê Cụ ghi chép từ năm 1937, hiện đang lưu giữ tại Viện thông tin Khoa học xã hội Hà Nội, Ký hiệu TT-TS,F40 18/ XVI,22.

Theo: TS. ĐÀO NHẬT KIM

Số lượt xem: 4465

(Bài được đăng bởi administrator)

Tag: Phụng Các

 
 

  Các tin liên quan:

 
Bo mot nang Phu Yen
quảng cáo 1quảng cáo 2

Sao Coffee

Phù Đổng

Visa Uc

Vé máy bay PY